Chiếc Bô-ing 747 khổng lồ vừa cất cánh khỏi phi trường Sít-ni, Úc Đại-lợi. Có hai người hành khách lịch sự ngồi cạnh nhau. Một người đang đọc một tập san khoa học bóng nhoáng, ngoài bìa có hình ảnh tàu "con thoi" đang khởi hành bay vào vũ trụ. Còn người kia đang đọc quyển Kinh Thánh đã sờn gáy. Người thứ nhất là bà giáo sư đang trên đường đi thuyết trình ở các trường đại học ở Hoa Kỳ, người thứ hai là một mục sư. Sau nửa giờ yên lặng, đột nhiên bà giáo sư quay sang ông mục sư với giọng mỉa mai: "Tôn giáo các ông chẳng có gì gọi là khoa học, các ông chỉ có niềm tin thôi". Ông mục sư mỉm cười khiêm tốn. Thật đáng buồn, bà ta không ngờ rằng ông này đã từng là người am tường khoa học, trước khi dâng mình phục vụ Chúa.
Ông Mục sư: Thực ra con người ai cũng phải có niềm tin. Nhà hàng hải Cô-lum-bô nhờ tin Trái Đất tròn mới dám đi thám hiểm và phát hiện ra châu Mỹ. Bản thân bà cũng phải tin chiếc máy bay này có khả năng bay an toàn và phi công đủ trình độ mới dám lên đây ngồi phải không? Là nhà khoa học, bà phải dùng thuyết tiến hóa để giải thích nguồn gốc mọi sinh vật trên thế gian này. Thực ra thuyết tiến hóa là một học thuyết dựa trên niềm tin hơn là cơ sở khoa học. Có đúng vậy không?
1. Thuyết Tiến Hóa là gì?
Bà Giáo sư: Thuyết tiến hóa là một giả thiết dùng để giải thích nguồn gốc sinh vật trên thế gian. Theo thuyết ấy. người ta nói rằng cách đây 3.5 tỷ năm trên quả đất không có sự sống. Một ngày kia có một số chất hóa học trong đại dương hiệp lại với nhau một cách tình cờ, trở nên tế bào sống đầu tiên. Sau đó một tế bào đơn trở nên tế bào kép, tế bào kép trở nên trở nên loài vật không xương sống phức tạp hơn, như con bọ ba thùy, con sứa, con giun. Rồi một loài không xương sống sót qua sự biến đổi môi trường khắc nghiệt, trở nên loài có xương sống như loài cá, tiếp đó loài cá trở nên loài ếch nhái, bò sát, chim và thú. Cuối cùng một loài thú cao đẳng biến đổi dần dần trở thành loài người. Bản thân con người cũng đang ở trên con đường tiến hóa lên một loài siêu đẳng hơn. Tất cả xảy ra qua quá trình đột biến, một cách tình cờ và chọn lọc tự nhiên. Con nào khỏe con ấy sống, chứ chẳng do Đấng nào tạo ra hay nuôi dưỡng chúng cả. Đây là khoa học chính xác chứ không phải tín ngưỡng mà những người như các ông lợi dụng để giấu diếm sự dốt nát của mình v.v....
Ông Mục Sư: Có một em bé hồn nhiên hỏi mẹ: "Mẹ ơi, con từ đâu đến đây?" Người mẹ vì bận bịu trong lúc làm bếp nên trả lời qua loa: "À con cò đem con lại cho mẹ đấy!" Cu Tý lại hỏi tiếp: "Thế thì mẹ từ đâu đến đây?". Người mẹ thản nhiên trả lời: "Thì cũng có một con cò đem mẹ tới cho bà ngoại!". "Vậy bà ngoại đến từ đâu?". Biết mình đang lâm vào thế tiến thoái lưỡng nan nên ngưòi mẹ liền chỉ tay vô trong phòng khách: "Con chạy ra hỏi bà ngoại đi.". Tý vâng lời, vừa chạy vừa hỏi: "Bà ơi, bà từ đâu đến đây? Ai đem bà đến cho bà cố?" Tội nghiệp bà cụ già nghễng ngãng, mờ mắt không lẽ lại phải vắt óc tìm cách giải thích về sinh lý con người cho đứa trẻ 5 tuổi. Bà liền nghiêm giọng: "Ngày xửa ngày xưa có một con cò đem các em bé đi phân phát cho các bà mẹ, May mắn sao bà cũng là một trong các em bé ấy và con cò đem bà đến đặt vô lòng bà cố." Cu Tý thỏa mãn với sự tò mò và không còn hỏi thêm nữa. Chắc chắn khi nó lớn lên, nó sẽ dùng cách này để giải thích lại cho thế hệ tiếp theo về nguồn gốc của trẻ em.
Con cò là cách giải thích tốt nhất, hợp lý nhất cho con nít để khỏi phải nhắc đến các chi tiết dây mơ rễ má, đã khó giải thích lại gây mắc cỡ nữa. Mặc dù chẳng có chút gì là sự thực, nhưng tất cả mọi người đều chấp nhận câu chuyện khôi hài trên và sử dụng nó trong cuộc sống. Giả sử có em bé nào có tính hiếu kỳ bất thường và thích tìm hiểu cho đến nơi đến chốn, nó có thể hỏi: "Thế thì con cò lấy các em bé từ đâu? Bản thân các con cò, ai đem chúng đến đây?" Chắc chắn cu cậu sẽ bị người lớn quở mắng: "Hỏi gì mà hỏi lắm thế!".
Câu chuyện về thuyết tiến hóa cũng vậy. Đây là cách giải thích hết sức phổ thông, nhanh gọn để thỏa mãn trí tò mò về nguồn gốc vũ trụ, sinh vật và loài người. Nếu có ai muốn đi sâu hơn để tìm kiếm lẽ thật người ấy sẽ phát giác ra biết bao nhiêu mâu thuẫn mà thuyết tiến hóa không có cách nào giải thích nổi. Trước tiên là thuyết tiến hóa không thỏa mãn các định luật khoa học và sau đó tuổi Trái đất không đủ để loài này biến thành loài kia. Sau đây là một số bằng chứng.
2. Thuyết tiến hóa và định luật Nhiệt Động Lực thứ hai
Trong thực tế, một chiếc xe không được chăm sóc sẽ trở nên một đống sắt rỉ lẫn lộn với một mớ cao su lão hóa và bãi xăng nhớt vô dụng. Một ngôi nhà không được sửa sang, sớm muộn cũng sẽ bị hư hại. Một sinh vật, dù sống lâu đến đâu cũng trở nên già cỗi, bệnh tật và chết dần v.v... Đó là nguyên tắc Êntropi (entropy) hay còn gọi là định luật Nhiệt Động Lực thứ hai: Mọi quá trình biến đổi xảy ra trong tự nhiên đều theo chiều đi xuống và thoái hóa, từ tình trạng cấp cao xuống tình trạng cấp thấp, từ trật tự xuống hỗn loạn, từ năng động xuống "thụ động"...
Thế mà thuyết tiến hóa lại nói rằng vũ trụ và sinh vật đang được biến đổi theo chiều hướng phát triển, từ cấp thấp lên cấp cao, từ đơn giản lên phức tạp, từ hỗn độn lên trật tự, từ tình trạng thụ động lên tình trạng năng động v.v... Vậy thuyết Tiến hóa có hợp lý hay không?
Chúng ta biết "năng lượng không tự nhiên sinh ra, không tự nhiên mất đi, nó chỉ biến từ dạng này sang dạng khác" (theo định luật bảo toàn năng lượng) và "trong quá trình biến đổi, năng lượng càng ngày càng trở nên ít hữu dụng hơn" (theo định luật Nhiệt Động Lực thứ hai). Vậy ngay từ đầu đã phải có năng lượng và năng lượng ban đầu là năng lượng toàn hảo. Ngày nay chúng ta chỉ có được năng lượng cấp thấp, thoái hóa theo quá trình Êntropi. Muốn tồn tại (hoặc đi muốn nguợc quá trình thoái hóa, biến đổi từ dạng thấp cấp thành dạng cao cấp hơn), vật chất đòi hỏi nguồn năng lượng bên ngoài. Vậy nguồn năng lượng đầu tiên đến từ đâu? Nguồn năng lượng tiếp trợ, bảo trì sự sinh tồn, vận chuyển của các tinh tú, của tinh thể, vật thể và của thế giới hữu sinh ... do Ai đưa đến. Thật chúng ta không thể trả lời được nếu từ chối một Đấng Quyền Năng lớn hơn cả Vũ trụ. Ngài không những đã cung cấp năng lượng cho thế giới tốt đẹp ban đầu nhưng còn gìn giữ nó cho đến ngày hôm nay bởi quyền năng của Ngài. Định luật nhiệt động lực học thứ hai chứng minh cho thuyết tạo hóa và làm cho thuyết tiến hóa trở nên phản khoa học.
3. Thuyết Tiến hóa và mô hình "tổ hợp tối thiểu"
Bà Giáo sư: Ông nói về các định luật nhiệt động lực cũng có lý nhưng qua hàng tỷ năm lịch sử của Trái Đất chắc có sự phải có sự may rủi mà khoa học không giải thích được xảy ra ra chứ. Chúng tôi cho rằng cách đây 3,5 tỷ năm, một số nguyên tử hóa chất kết hợp lại một cách tình cờ tạo nên sinh vật đầu tiên dưới dạng tế bào đơn giản (single cell). Rồi theo quá trình biến đổi và chọn lọc tự nhiên, tế bào đơn giản ấy dần dần trở nên sinh vật phức tạp như con người ngày nay.
Ông Mục sư: Chắc bà cũng có biết về mô hình "tổ hợp tối thiểu" ?
Bà Giáo sư: Tôi biết chứ. Một tổ hợp tối thiểu, nói cách khác là một bộ máy không thể làm đơn giản hơn. Nó gồm một số thành phần cơ bản với các chức năng khác nhau, mỗi thành phần được chế tạo và lắp ráp một cách đặc biệt để chúng làm việc cùng nhau cho một mục đích chung. Thiếu bất cứ một thành phần căn bản nào, bộ máy đó không thể hoạt động được. Ví dụ đơn giản nhất như chiếc kính lão của tôi đây, gồm có mắt kính, gọng kính và bản lề. Thiếu mắt kính, chiếc kính chẳng qua là đồ trang sức. Thiếu bản lề, mắt kính và gọng kính không thể cộng tác với nhau. Bản thân bản lề cũng lại là một tổ hợp tối thiểu gồm có hai cánh và một trục bản lề. Chiếc xe đạp của con tôi cũng là một ví dụ về tổ hợp thối thiểu, ít nhất nó phải có ghi-đông, khung xe, bánh xe, yên, bàn đạp và xích. Nếu nói về xe một bánh của chàng hề ở rạp xiếc, nó phải có khung, yên, bánh xe và bàn đạp. Nhưng ông muốn dùng mô hình tổ hợp tối thiểu để chứng minh điều gì?
Ông Mục sư: Xin chúng ta hãy nghiên cứu chiếc kính lão của bà. Ngay từ đầu thợ kính đã phải thiết kế, chế tạo gọng, bản lề và mắt kính. Cho dù cái kính đầu tiên không có bản lề, sau này người ta cho nó cái bản lề để tiện sử dụng, sự thêm thắt này không phải ngẫu nhiên xảy ra nhưng do sự chủ ý của người sáng tạo.
Bà có thể sắp xếp chiếc xe đạp một bánh, hai bánh, xe gắn máy, xe hơi, xe hơi lội nước, xe hơi có cánh (máy bay) v.v... theo chiều hướng ngày càng phức tạp để chứng minh cho sự tiến hóa của các phương tiện giao thông. Thực ra mỗi một chiếc xe kể trên đều được thiết kế, chế tạo và sử dụng, một cách riêng biệt tùy theo ý của kỹ sư và người dùng.
Bà Giáo sư: Tôi có thể nói rằng xe gắn máy "tiến hóa" từ xe đạp được không?
Ông Mục sư: Không được đâu. Tuy xe đạp và xe máy có những chi tiết giống nhau, như ghi-đông, khung, yên, xích và bánh, nhưng xe đạp không có máy nổ và xăng. Bản thân máy nổ lại có xy lanh, pít tông, trục khủy, bu-zi, bình điện và bộ chế hòa khí v.v... phức tạp lắm. Vậy máy nổ "tiến hóa" từ bộ phận nào của xe đạp? Bằng cách gì? Nếu có người nói rằng xe máy "thoái hóa" thành xe đạp, điều đó "có lý" hơn, vì khi máy hư, xăng nhớt quá đắt nên chủ nhân có thể tháo bỏ máy nổ đi. Tuy nhiên, để có thể sử dụng xe máy như xe đạp họ lại phải chế thêm bàn đạp. Khác với xe đạp, bánh răng ở trục giữa của xe máy nhỏ hơn bánh răng ở trục sau, Người đạp sẽ phải đạp "nhanh như máy" thì xe mới nhúc nhích. Vậy nếu không được thiết kế hợp lý ngay từ đầu, sự cải tiến trên sẽ cho chúng ta một phương tiện vận chuyển cọc cạch, gần như là vô dụng. Tóm lại trong tất cả những vật dụng hàng ngày của chúng ta, từng bộ phận cũng đã được thiết kế, sản xuất, lắp ráp đúng hình dạng, kích thước một cách đặt biệt như trên bản vẽ, để toàn bộ hệ thống có thể hoạt động một cách hài hòa, đúng mục đích của người chế tạo và sử dụng.
Bà Giáo sư: Vậy ông muốn chứng minh điều gì ở đây?
Ông Mục sư: Cơ thể sinh vật phức tạp hơn máy móc rất nhiều. Chúng ta hãy tạm nghiên cứu một tế bào đơn giản nhất là tế bào sống đầu tiên được hình thành do một sự kết hợp tình cờ giữa các hóa chất. Mỗi một cơ thể dù chỉ là một đơn bào đều là một tổ hợp tối thiểu. Khác với phân tử không có sự sống, tế bào đầu tiên phải có ít nhất năm chức năng sau đây: 1. Khả năng tiếp thụ năng lượng từ môi trường để nuôi dưỡng bản thân, 2. Khả năng bài tiết, 3. Khả năng bảo vệ cơ thể (như điều hòa nhiệt độ), 4. Khả năng sinh sản để lưu truyền thế hệ đời sau và cuối cùng một hệ thần kinh điều khiển toàn bộ cơ thể. Một số tế bào còn có khả năng tự di chuyển nữa. Thiếu một trong năm khả năng ấy, tế bào không thể tồn tại được. Những chi thể tối thiểu để thoả mãn các chức năng ấy phải tồn tại và hoàn chỉnh ngay từ thời buổi ban đầu chứ không phải được hình thành trong quá trình đột biến và chọn lọc qua nhiều thế hệ. Nếu không có khả năng tiếp thu năng lượng, tế bào ấy không có sự sống. Nếu nó có khả năng hấp thụ năng lượng mà khả năng bài tiết chưa được hình thành, nó sẽ bị ngộ độc mà chết. Nếu các khả năng trên đã có, nhưng tế bào đầu tiên không thể tự bảo vệ mình, nó sẽ bị tiêu diệt bởi các chất hóa học xung quanh, bởi ánh sáng, nhiệt độ môi trường... Cuối cùng giả sử tế bào đầu tiên rất chi là hoàn hảo nhưng cơ chế sinh sản di truyền chưa có thì nó làm sao có thể duy trì nòi giống mình được cho đến ngày hôm sau?
Tế bào đầu tiên tưởng đơn giản nhưng rất phức tạp. Nó đặc trưng cho một tổ hợp gồm nhiều chi tiết hoạt động hài hòa với nhau vì một mục đích chung. Dù thô sơ đến đâu, ngay từ đầu nó đã là sản phẩm của một Trí Tuệ và Tài Năng vô hình chứ không thể nào hình thành qua một sự đột biến ngẫu nhiên như các nhà tiến hóa lầm tưởng.
Cơ thể con người là một tổ hợp phức tạp của các chi thể. Mỗi chi thể lại là một tổ hợp phức tạp của các tổ hợp của các tế bào. Chúng ta hãy coi một cuốn phim quay chậm về các động tác của một thủ môn. Khi cặp mắt của anh phát hiện trái banh được đá tới với tốc độc 100 km/h từ khoảng cách 15 mét, bộ óc của anh ta sẽ tính toán đường bay và quán tính của trái banh, sự xô đến của các cầu thủ khác, khoảng cách giữa anh và khung thành, độ cao mà anh sẽ phải ngã xuống v.v... Sau đó anh lấy một hơi thở sâu, chân nhảy lên, tay vươn ra, các ngón tay xòe rộng, người lượn vòng trong không trung, xoay ngang rồi hạ xuống sân cỏ với trái banh nằm chắc chắn trong lòng. Cùi chỏ hoặc gót chân của anh còn hướng về mặt của tiền vệ đội bạn nữa. Tất cả mọi chi tiết ấy chỉ xảy ra trong nháy mắt. Tất cả mọi hoạt động là một sự phối hợp của toàn bộ các chi thể của con người. Trước hết, hình ảnh trái banh được tiếp nhận bởi 137 triệu tế bào quang học nằm trên võng mạc ở phía sau một hệ thống "ống kính" tự động điều chỉnh tiêu điểm, cường độ ánh sáng, phức tạp hơn bất cứ máy chụp hình hiện đại nhất của loài người. Mỗi tế bào của mắt có thể phát hiện được một phân tử áng sáng trong phòng tối và phân tích các dữ kiện quang học với tốc độ 10 tỷ phép tính một giây. Các dữ kiện được chuyển tới bộ não qua hàng tỷ sợi dây thần kinh. Các tế bào não lại tính toán và điều khiển các cơ chế khác của thân thể như tay, chân, tim, phổi thực hiện những động tác chính xác và hiệu quả, tương tự như các động tác mà thủ môn đã luyện tập hoàn hảo và được ghi lại trong trí nhớ. v.v... Ai đã làm ra các tế bào của mắt, não, dây thần kinh và bắp thịt và khiến chúng làm việc với nhau một cách tinh vi như vậy?
Con mắt của con người còn có khả năng điều chỉnh quang sai. Các nhà khoa học đã thiết kế một chiếc kính đặc biệt, khi đeo vào người ta sẽ thấy hình ảnh lộn nguợc. Tuy nhiên sau khi đeo một thời gian, hệ thống quang học của mắt và hệ thần kinh tự động biến hình ảnh nhận được quay xuôi lại như không có chuyện gì xảy ra. Người ta còn đeo chiếc kính đặc biệt này để đi mô tô nữa. Thật kỳ diệu.
Chính bản thân Đác-uyn, cha đẻ của thuyết tiến hóa cũng phải thú nhận như sau: "Con mắt có những cơ chế không thể bắt chước được, như hệ thống điều chỉnh tiêu cực tự động, điều chỉnh cường độ ánh sáng, điều chỉnh quang sai và phân biệt màu sắc. Nếu có ai nói rằng con mắt được hình thành trong một quá trình chọn lọc tự nhiên, một cách tình cờ may rủi, thì tôi phải thành thật lên tiếng: "…ấy thật là điều vô lý, lố bịch ở mức độ cực điểm." (Trích trong sách "Nguồn gốc của các loài" của Đác-uyn)
Các chi tiết của chiếc đồng hồ không thể tự nó chế tạo mình, từ vật liệu sơ khởi trở nên những cơ cấu thích hợp với chức năng đặc biệt của nó trong guồng máy phức tạp. Chúng cũng không tự nhiên lắp ráp mình với các chi tiết khác theo đúng các nguyên tắc cơ khí, thời gian và thẩm mỹ để trở nên chiếc đồng hồ hữu dụng. Chúng nó cần có trí tuệ và bàn tay khéo léo của người thợ đồng hồ. Vậy, mọi sinh vật trên thế gian này còn phức tạp gấp hàng triệu lần so với chiếc đồng hồ tinh xảo nhất, chúng không thể tự nhiên sinh ra, biến dạng và tiến hóa nhưng cần có trí tuệ và bàn tay phi thường của một Đấng Sáng Tạo.
4. Thuyết Tiến hóa và Toán học
Bà Giáo sư: Ông cứ nói “Đấng Tạo Hóa” làm cho tôi khó chịu lắm. Làm gì có Đấng nào khác ngoài thiên nhiên. Chúng ta có thể gọi “mẹ thiên nhiên”đi.
Ông Mục sư: Thử hỏi “mẹ thiên nhiên” cần phải có bao nhiêu thời gian để mày mò thí nghiệm và khám phá một sự sắp xếp thích hợp giữa các bộ phận của một cơ thể con người, hầu cho các bộ phận ấy có thể hoạt động hài hòa với nhau theo mô hình "tổ hợp tối thiểu".
Bà Giáo sư: Lâu lắm, Chính vì vậy mà “Mẹ Thiên Nhiên” cần đến 3,5 tỷ năm để sinh vật tiến hóa thành con người ngày nay.
Ông Mục sư: 3.5 năm hay 30 tỷ năm cũng chưa đủ đâu. Bà hãy kiên nhẫn để cùng tôi tính toán xác xuất thành công của việc lắp ráp một tổ hợp tối thiểu. Nếu tổ hợp tối thiểu chỉ có hai thành phần (a,b) chúng ta chỉ có 1x2= 2 khả năng (ab, ba) liên kết. Nếu có 3 thành phần (a,b,c) chúng ta có 1x2x3= 6 khả năng liên kết (abc, acb, bac, bca, cab, cba) và xác xuất tìm ra khả năng liên kết thích hợp là 1/6.
Xin bà hãy coi chiếc kính lão này đi. Nó gồm có 2 gọng, 2 chốt bản lề, 2 mắt kính và một khung giữ mắt kính. Tổng cộng 7 thành phần. Khả năng kết hợp của các thành phần ấy với nhau là 1x2x3x4x5x6x7= 7! (7 giai thừa). Tức là có 5040 khả năng xắp xếp các thành phần ấy lại với nhau với xác xuất tìm ra một cách xắp xếp hợp lý là 1/5040. Tất nhiên tôi đã đơn giản hóa vấn đề, cho các thành phần được thiết kế thích hợp sẵn để thợ lắp kính khỏi phải mày mò gọt dũa. Người thiết kế chiếc kính này chỉ cần lắp một lần là xong. Còn người man di mọi rợ nhất, từ trước đến nay chưa bao giờ nhìn thấy một cái kính nào phải cần bao nhiêu thời gian? Nếu mỗi phút có thể thí nghiệm một lần thì anh ta cần có 5040 phút tức 84 ngày làm việc liên tục. Nếu đưa cho con khỉ làm việc ấy thì thì cả triệu năm cũng không đủ thời gian.
Chúng ta hãy thử tìm cách lắp một bộ xương người một cách tình cờ. Bộ xương người, gồm có 200 chiếc xương riêng rẽ với kích thước, hình thù khác nhau. Chúng được gắn bó và cộng tác với nhau nhằm mục đích trên hết là làm khung cho cơ thể con người. Chúng ta hãy đổ 200 chiếc xương vào trong một chiếc hộp lớn của “chiếc máy lắp xương” làm việc theo nguyên tắc "lúc lắc rồi đổ ra" (như chơi súc sắc). Vậy chiếc máy đó phải lắc rồi đổ ra bao nhiêu lần để chúng ta có được một bộ xương người hoàn chỉnh hoạt động đúng chức năng của từng bộ phận nói riêng và của cả cơ thể con người nói chung?
Vậy nếu cơ thể có 200 chiếc xương, chúng ta có (1x2x3x...x199x200) hay 200! (giai thừa 200) khả năng liên kết. Xác xuất tìm ra khả năng kiên kết thích hợp là 1/200!(một trên giai thừa 200) Bà có biết 200! là bao nhiêu không: 10375 tức số mười với 375 số không đứng đằng sau. Khả năng tìm được một sự liên kết thích hợp là 1/10375, tương đương với zê-rô tuyệt đối.
Giả sử chiếc máy lắp xương của chúng ta lắc một lần trong một giây, thì từ thời nguyên thủy của vũ trụ cho đến nay (theo giả thiết khoa học khoảng 30 tỷ năm), máy lắp xương của chúng ta mới lắc được 1018 lần. Chúng ta còn phải lắc 10375-18 = 10357 lần nữa mới tìm ra được một hệ xương hợp lý cho cơ thể chúng ta. Nếu chiếc máy lắp xương có thể lắc 1 tỷ lần trong một giây, thì kể từ thủa ban đầu của vụ trụ đến nay nó mới lắc được 109x 1018=1027, nó vẫn còn phải lắc 10330 lần nữa.
Chúng ta thấy rằng xác xuất "trúng số" theo cách đột biến, tình cờ để lắp đúng một hệ thống 200 khúc xương trong bộ xương con người là con số không. Ấy là chưa nói đến những chi thể phức tạp hơn như con mắt, bộ não hay hệ DNA trong mỗi một tế bào. Dù thiên nhiên có mày mò thí nghiệm, kiên nhẫn mấy chăng nữa, xác xuất toán học và tuổi của trái đất cũng không cho phép điều đó xảy ra.
5.Thuyết Tiến hoá và Sinh vật học
Bà Giáo sư: Thế giới sinh vật khác với máy móc cơ khí thuần túy, xin ông đừng nói đến cái máy lắp xương hay cái đồng hồ của ông.
Ông Mục sư: Bà nói cũng có lý, sinh vật khác với khoáng vật bởi ít nhất là khả năng sinh sản. Có hai định luật về tính bất biến của sự sinh sản (immutability): Thứ nhất là "chỉ có sự sống mới sinh ra sự sống", thứ hai là "cha nào con ấy". Theo định luật thứ nhất, ruồi nhặng không tự nhiên sinh ra tù đống rác, nhưng sinh ra từ trứng ruồi. Theo định luật thứ hai, ong vò vẽ sinh ra ong vò vẽ chứ không sinh ra ong mật, đừng nói đến chuyện sinh ra ruồi trâu hay chuồn chuồn.
Thế mà thuyết tiến hóa muốn chúng ta tin các tế bào đầu tiên sinh ra từ các hóa chất không có sự sống. Thuyết ấy cũng nói rằng trong một hoàn cảnh nào đó, luật cha nào con nấy bị "treo giò", để hợp chất vô sinh biến thành tế bào hữu sinh, để cho con cá biến thành con ếch, con rắn biến thành con thú v.v... Cả hai điều trên đều là giả thuyết, chứ không phải kết quả chắc chắn của bất cứ phòng thí nghiệm nào dựa theo các định luật khoa học.
Bà Giáo Sư: Chắc ông không biết về hai cuộc thí nghiệm của Stanley Miller năm 1953 tại trường Đại Học Chicago và của Sidney Fox năm 1958 tại trường Đại Học Miami? Nhờ pha trộn các chất hóa học rồi cho tia lửa điện bắn phá mà họ chế ra được các A-xít A-mi-nô và chất prô-tein nhân tạo...
Ông Mục sư: Ồ, tôi biết chứ, khi chưa tin Chúa tôi đã từng dùng những kết quả này để chứng minh rằng sự sống có thể bắt đầu đâu cần có Đấng nào tạo ra. Sau này tôi mới biết mình ngu. Những A-xít A-mi-nô và Pro-tê-in mà hai nhà khoa học kia chế được lại không phải những loại có trong các tế bào. Các nhà khoa học cũng đã từng chế ra một quả trứng nhân tạo với đủ các thành phần hóa học, nhưng không thể cho nó sự sống và làm cho nó sinh ra gà con được.
Tôi biết khoa học ngày càng phát triển và sẽ tạo ra nhiều sản phẩm thật kỳ diệu hơn. Tuy nhiên, chúng không bao giờ hình thành một cách tình cờ, mà phải có bàn tay khối óc của các nhà khoa học điều hành, pha chế có chủ đích. Cũng vậy, thế giới sinh vật xung quanh chúng ta chẳng tự nhiên mà có nhưng được tạo ra bởi Một Quyền Năng và Trí Tuệ cao siêu hơn sức lực và hiểu biết của con người.
Theo Kinh Thánh, ban đầu Đức Chúa Trời ban sự sống cho muôn loài và Ngài sáng tạo thực vật và động vật theo từng loài, từng giống, từng hệ của nó. Chính Đức Chúa Trời đặt ra các nguyên tắc bảo toàn nòi giống mà tất cả mọi sinh vật trên Trái Đất này tự động làm theo. Các con vật khác loài không thể giao phối với nhau để tạo ra loài mới, trừ trường hợp ngoại lệ là con ngựa kết hợp với con lừa, nhưng đáng tiếc thay con la lại không có khả năng sinh sản để duy trì nòi giống được.
6. Thuyết Tiến hóa và Di truyền học
Bà Giáo sư: Vậy xin ông hãy giải thích vì sao có nhiều giống chó hay giống người vậy?
Ông Mục sư: Các giống chó tuy khác nhau về hình dạng nhưng chúng cùng một loài. Khi hai con chó khác giống kết hợp với nhau, hậu tự của chúng cũng vẫn là con chó, hay sủa, hay cắn, thích ăn đồ thối và hay nhấc chân sau lên khi đứng cạnh một gốc cây...
Qua nhiều thế hệ được nhân giống có-chủ-ý, người ta có thể tạo cho các giống chó vô cùng khác biệt như giống chó Chu-oa-oa nhỏ đến mức có thể nằm trong lòng bàn tay và giống Thánh Bơ-nát (St. Bernard) lớn ngang con gấu nâu. Điều này tưởng giúp chúng tay giải thích thuyết tiến hóa, nhưng thật ra lại càng dẫn đến kết quả ngược lại. Thứ nhất, các con chó cực nhỏ và cực lớn như vậy không tự nhiên mà có, nhưng cần có bàn tay khối óc của con người điều hành trong quá trình sinh sản. Thứ nhì, chúng rất khó sống, cần phải được nuôi dưỡng cẩn thận bởi chủ nhân. Thả ra ngoài rừng, chúng là những giống dễ chết hơn các con chó cún tầm thường. Thứ ba: Nếu cho tất cả các loài chó nhà và chó rừng sinh sống và giao cấu một cách tự nhiên, sau một số thế hệ con cháu chúng lại trở nên giống chó nguyên thủy. Những điều này chứng minh rằng chó trước sau như một vẫn là chó, theo mã hóa di truyền mà Đức Chúa Trời đã đặt vào tổ tiên của chúng.
Trong loài người, chẳng có sự khác biệt nào rõ ràng hơn là sự khác biệt giữa người da trắng và người da đen, cả về nước da, màu mắt, nét mặt, dáng đi. Khi chủ nghĩa phân biệt chủng tộc còn hưng thịnh, người ta còn cho rằng người da đen không thuộc loài người nữa. Ngày nay khoa học đã chứng minh rằng họ có cùng cơ chế sinh lý giống hệt như bất cứ chủng tộc nào khác. Máu của người da đen có thể tiếp cho người da trắng, thận của người da trắng có thể cấy vào người da đen V.v... Khi người da "cực trắng" từ Bắc Âu kết hợp với người da "cực đen" từ Nam Phi, con cái của họ vẫn là con người 100%. Ngược lại, nếu đem tinh trùng của con người thụ tinh cho trứng của một con vượn cấp cao nhất, kết quả đạt được là con số không. Sở dĩ như vậy là vì trong vòng loài người, dù da trắng hay da đen, da nâu hay da vàng, ai cũng có một hệ thống gen hoàn toàn giống hệt nhau, đặc trưng cho cơ chế sinh lý của loài người. Sự khác nhau bên ngoài như màu da chẳng qua là một số gen màu này trở nên tích cực hơn, trong khi các gen màu kia bị ức chế. Tuy bị ức chế nhưng chúng không bị phế thải. (Xin xem thêm ở phần nguồn gốc các dân tộc trong chương 4)
Sự sinh sản và duy trì nòi giống chỉ có thể xảy ra giưã các giống trong phạm vi một loài, bởi chúng có chung một hệ thống di truyền, chứ không thể xảy ra từ loài này sang loài kia được.
Bà Giáo sư: Ông thử giải thích hiện tượng này ra sao: Trên một hòn đảo với nhiều tảng đá màu sẫm có một giống chim hải âu màu đen. Đó là kết quả của sự diệt vong của những con chim hải âu màu trắng, dễ bị các con đại bàng phát hiện và làm thịt. Còn trên một hòn đảo bên cạnh với nhiều tảng đá trắng lại chỉ có những con hải âu trắng sinh sống vì các con đen đã bị đại bàng xơi hết rồi. Điều đó chứng minh hai giống hải âu được tiến hóa qua phương cách chọn lọc tự nhiên phải không?
Ông Mục sư: Bà chắc quên rằng hai giống này cùng một loài và trong một loài có con đen, con trắng và con xám. Chúng có thể kết hợp với nhau để sinh ra các con chim con có màu trung gian. Chúng đều có một hệ thống mật mã di truyền đặt trưng của loài hải âu. Mỗi con chim đều có hai loại gen, một loại phụ trách màu trắng của lông và một loại phụ trách màu đen. Tùy theo môi trường mà gen phụ trách lông trắng trở nên tích cực hay tiêu cực so với gen lông đen, nhờ vậy con chim có thể hài hòa với màu sắc của hòn đảo. Các hòn đảo lại nằm xa nhau, môi trường sinh sống bị chia cách, không có sự thăm viếng của chim từ đảo khác. nên các con trong đàn kết hợp với nhau dẫn đến hiện tượng giao phối gần gũi. Khi con chim đực và con chim cái đều có gen phụ trách màu đen tích cực, các con chim con của nó sẽ tiếp tục có lông đen từ thế hệ này qua thế hệ kia. Dù lông nó có đen như than chăng nữa, trong các tế bào vẫn mang một hệ thống mật mã di truyền đặc trưng cho loài hải âu, với các gen phụ trách màu trắng bị ức chế. Khi một con hải âu trắng xuất hiện trên đảo và giao phối với một con lông đen, đàn con của chúng sẽ có lông xám do bởi gien phục trách màu trắng trở nên tích cực và làm thăng bằng với các gen phụ trách màu đen.
Vậy không phải con chim đen từ hòn đảo thứ nhất tiến hóa từ các con chim trắng và trên hòn đảo thứ hai thì ngược lại. Sự đồng màu trên mỗi hòn đảo là kết quả của sự thích nghi môi trường và sự giao phối gần gũi do bị chia cách về địa dư.
Bà Giáo sư: Nhưng trong quá trình sinh tạo ra tế bào mới, một số thông tin di truyền có thể bị sao chép sai trật, ví dụ do ảnh hưởng của tia phóng xạ. Chúng tôi gọi hiện tượng đó là đột biến di truyền. Có trường hợp đột biến di truyền khiến cơ thể con vật thích nghi với môi trường hơn và tồn tại. Có thể ban đầu chỉ có loài hải âu xám, nhưng một ngày nào đó có một con bị đột biến di truyền, các gen phụ trách lông trắng bị hư hại chỉ còn lại các gen phụ trách lông đen. Tình cờ màu đen lại là màu thích hợp với màu sẫm của hòn đảo nên nó sống lâu có khả năng tồn tại nhiều hơn so với các con khác. Điều đó có lý không?
Ông Mục sư: Con chim bị đột biến di truyền trở nên đen thui, rồi con cháu của nó chỉ có màu đen vì các gen phụ trách lông trắng bị hư hại, điều đó có thể xảy ra. Màu lông của nó có thể hài hòa với màu sắc của hòn đảo. Tuy nhiên khi hòn đảo bị tuyết phủ trắng xóa, chúng lại là những nạn nhân đầu tiên cho đại bàng, trong khi các con hải âu màu xám và màu trắng vẫn ung dung sinh sống.
Thường thường các đột biến di truyền mang lại tai họa hơn là lợi ích. Y học đã thống kê 2000 căn bệnh có nguồn gốc trong sự thoái hóa gen. Khi điều ấy xảy ra con vật sẽ trở nên yếu hơn, ít khả năng tồn tại hơn những con vật bình thường. Có những người bị đột biến di truyền, như bệnh bạch tạng, tóc trở nên trắng, lông mày, lông tay và ria mép đều trắng một cách đáng sợ. Khi lớn lên anh ta chắc ít có khả năng lập gia đình hơn người thường, hơn nữa các cô gái thiếu gen màu như anh thật hiếm hoi, nên khả năng di truyền của anh cho thế hệ về sau thật hạn chế.
Từ trứng ruồi được xử lý bằng tia phóng xạ, các nhà khoa học đã tạo ra các giống ruồi không cánh hoặc khác màu, dầu vậy chúng chỉ là loài ruồi, và khả năng tồn tại của các giống mới kém xa giống tự nhiên.
Các nhà khoa học cũng tạo ra một loại gà không có lông nhờ thay đổi các gen phụ trách về lông của nó. Kết quả chúng ta có thể ăn thịt gà mà không phải nhổ lông. Người ta nói rằng loại gà này dễ sống ở nơi nóng nực so với loại gà có lông. Khổ tâm thay, nếu thả con gà đó ra ngoài trời, nó lại dễ chết hơn các con gà thường vì bị muỗi cắn. Dù nó có sống đến tuổi thanh niên, gà trống không thể đạp mái vì không thể vỗ cánh và gà mái không thể ấp trứng vì thiếu lông. Kết quả giống gà không lông nhờ đột biến di truyền không thể tồn tại và phát triển thành một loài mới được.
Một sinh vật cấp thấp thường có ít gen hơn động vật cấp cao. Nếu bị đột biến di truyền, số lượng gen trong nó sẽ bị mất đi chứ không thêm lên, hư hại đi chứ không lành mạnh ra. Vậy sinh vật chỉ có thể thoái hóa chứ làm sao có thể tiến hóa được?7. Thuyết Tiến hóa và Giải phẫu sinh lý
Bà Giáo sư: Một trong những bằng chứng về thuyết tiến hóa là giải phẫu sinh lý của cơ thể con người. Khi một bào thai phát triển trong tử cung của người mẹ, nó phải đi qua nhiều giai đoạn: Đầu tiên là tế bào đơn, sau thành tế bào kép, sau nữa nó trông giống như cá, có mang và dần dần nó giống như con nòng nọc, bò sát, khỉ và cuối cùng nó trở nên giống như người. Trong cơ thể con người còn có những bộ phận không cần thiết như a-mi-đan, ruột thừa... Đó là di tích của tổ tiên của con người tiền sử mang tính động vật xa xưa. Chắc ông chẳng có cách gì phủ nhận những bằng chứng hùng hồn này?
Ông Mục sư: Lý luận bào thai trong tử cung là các dạng sinh vật đang được tiến hóa, không những sai trật nhưng còn rất nguy hiểm vì nó cho phép người ta giết hại các em bé chưa có dịp chào đời. Hình dáng bào thai có vẻ giống như các sinh vật mà bà vừa nêu lên, nhưng đó không phải là cơ sở để kết luận đây là một quá trình tiến hóa thu nhỏ. Khi thấy bóng cây cam trên bức tường cũng giống như bóng cây táo, bà không thể kết luận rằng chúng có cùng một họ được. Ngay từ khi được thụ thai, tế bào trứng được phân đôi rồi lại phân đôi nữa, mỗi tế bào mới là một tế bào hoàn chỉnh có 46 nhiễm thể (23 từ mẹ và 23 tù cha) hoàn toàn khác biệt với tế bào con vật. Thứ tụ hình thành của các chi thể cũng đi ngược lại giả thiết của thuyết tiến hóa. ví dụ trái tim hình thành trước khi cơ thể có máu, lưỡi hình thành trước khi có răng... Chi thể càng phức tạp bao nhiêu càng được hình thành sớm hơn để có đủ thời gian phát triển. Cái mà bà gọi là mang cá ở hài nhi chẳng có gì dính dáng đến hệ tuần hoàn nhưng là những phần để phát triển thành quai hàm, tai, các tuyến họng và nhiều chi tiết của mặt. Nhờ sử dụng kỹ nghệ chụp hình qua sợi thủy tinh người ta có thể nghiên cứu bào thai trong tất cả các giai đoạn phát triển và khẳng định rằng không có giai đoạn nào mà bào thai trong bụng mẹ không phải là con người 100%.
Nói về các bộ phận không cần thiết trong cơ thể chúng ta, ví dụ như tuyến yên, tuyến hạch nhân, ruột thừa hay xương cụt. Ngày xưa khi giải phẫu sinh lý chưa được nghiên cứu sâu, người ta cho đây là di tích của quá trình tiến hóa, không còn cần thiết nữa. Ngày nay chúng ta biết tất cả các tuyến đều giúp cho sự thăng bằng hóa học trong cuộc sống, hoặc sản xuất hoóc môn và các chất miễn dịch. Còn xương cụt có tác dụng bảo vệ phần dưới của cột sống và làm khung để treo một số thớ thịt của xương chậu. Con người không thể ngồi xuống được nếu không có xương cụt.
Tóm lại, sự giống cá và bò sát trong các quá trình phát triển bào thai, hay sự hiện diện của các cơ quan "có vẻ là thừa" chẳng giúp gì để chứng minh cho thuyết tiến hóa. Ngược lại ai sử dụng những lý luận ấy còn bị mang tiếng là thiếu học thức nữa.
8. Thuyết Tiến hóa và tuổi của trái đất
Bà Giáo sư: Dù có vẻ vô lý đối với các định luật nhiệt động lực, xác xuất toán học, sinh vật học, giải phẫu sinh lý, hay di truyền học, tôi nghĩ rằng nếu có đủ một thời gian lâu dài của quá trình chọn lọc tự nhiên quá trình tiến hóa có thể xảy ra.
Ông Mục sư: Một học sinh phổ thông cũng có thể biết rằng nếu đã phản khoa học thì dù thiên nhiên có tự thí nghiệm bao nhiêu lâu đi chăng nữa cũng vô ích.
Giả sử bà ngồi trên chiếc máy bay này, thả một bộ bài tú lơ khơ từ độ cao một cây số xuống, liệu các con bài đó có thể tự xếp theo đúng màu sắc và thứ tự từ 1 đến 10, J, Q, K, A không? Không! Nếu một cây số chưa đủ cao vậy hãy bay lên mười cây số. Càng lên cao thời gian rơi xuống càng lâu và những con bài của bà chắc sẽ có đủ thời gian để sắp xếp theo trật tự phải không. Thực ra càng lên cao, các con bài khi rơi xuống sẽ càng bị tản mạn xa xôi hơn. Quá trình tiến hóa thực ra là quá trình thoái hóa (theo định luật nhiệt động học thứ hai), từ trật tự sẽ đi đến hỗn loạn. Thời gian càng nhiều thì tình trạng hỗn loại càng lớn đúng không. Xin Bà Giáo sư cho biết tuổi trái đất là bao nhiêu?
Bà Giáo sư: Ít nhất là 5 tỷ năm!
Ông Mục sư: Lấy gì làm bằng chứng?
Bà Giáo sư: Ông hỏi câu này là tự sát đấy. Chúng tôi có các phương pháp định tuổi đất đá và hóa thạch như phóng xạ Các bon 14, phóng xạ U-ran / Chì, và phóng xạ Kal-li / A-gôn v.v... Chúng tôi cũng có biểu đồ địa chất gồm có các tầng lớp đất đá, mỗi một lớp đất đá tiêu biểu cho mấy trăm triệu năm lắng đọng phù xa... Tuổi trái đất khoảng 5 tỷ năm và quá trình tiến hóa bắt đầu từ 3,5 tỷ năm.
Ông Mục sư: Hóa thạch là xác của một sinh vật đã biến thành đá sau nhiều năm bị chôn vùi trong các tầng đất. Người bình thường nghe đến các phương pháp định tuổi hóa thạch và khoáng vật bằng cách đo lường phóng xạ thì sợ lắm, chẳng ai dám cãi lại. Nhưng xin hỏi các phương pháp ấy có thật chính xác, hữu dụng thực tế trong công tác nghiên cứu địa chất và hóa thạch không? Bà đã bao giờ tự tay đo đạc bằng các phương pháp đó chưa? À, chưa, chỉ nghe nói thôi. Trước đây người ta nói gì tôi cũng tin như vậy.
Các bon 14 có nguồn gốc bên ngoài vũ trụ, được thực vật hấp thụ qua quá trình quang hợp. Các động vật ăn cỏ, lá và trái cây nhờ đó cũng tích trữ trong cơ thể một lượng Các bon 14. Khi sinh vật chết đi thì lượng Các bon 14 mang tính phóng xạ bắt đầu giảm dần theo chu kỳ cố định, cứ 5730 năm thì giảm đi một nửa. Vậy nếu lượng Các bon 14 đo được trong một hóa thạch còn 1/4 so với lượng Các bon 14 ban đầu, người ta biết rằng sinh vật ấy sống cách đây 11460 năm. Nếu một sinh vật sống cách đây 1,15 triệu năm (tức là thời sơ khởi của người vượn theo thuyết tiến hóa), lượng Các bon 14 trong hóa thạch chỉ còn là 1/200!(một trên giai thừa 200) tức là 1/10375, có nghĩa là zê rô. Ai có thể đo chính xác được lượng phóng xạ nhỏ như vậy trong một hóa thạch sống cách đây 1 triệu năm, chưa nói đến tổ tiên của loài cá sống cách đây 600 triệu năm và các tế bào sống đầu tiên hình thành cách đây 3,5 tỷ năm theo học thuyết Đa-uyn?
Trong thực tế phương pháp này chỉ dùng để định tuổi của các mẫu vật từ vài ngàn năm trở lại như xương cốt người sống thời Triệu Đà, Hùng Vương mà thôi.
Tất cả các phương pháp định tuổi khác đều có khuyết điểm và hạn chế tương tự. Có một số điều kiện phải được thỏa mãn trước khi các nhà khoa học có thể sử dụng các phương pháp định tuổi phóng xạ:
1. Mẫu vật phải tương đối trẻ, (trong vòng 5.000 - 10.000 năm trở lại) nhờ vậy lượng phóng xạ còn lại đủ lớn để có thể đo đạc chính xác được.
2, Phải biết thành phần và số lượng các chất phóng xạ ban đầu
3, Phải chắc chắn ở thời điểm ban đầu không có sản phẩm của sự phân hóa. Ví dụ chất U-ran sẽ phân hóa ra Chì (U-ran 238 biến thành Chì 206, U-ran 235 biến thành Chì 207). Bên cạnh đó Chì cũng lại là sản phẩm của sự phân hóa từ chất Thô-rum ( Thô-rum 232 biến thành Chì 208) và từ chất Chì 206 mang tính phóng xạ (Chì 206 biến thành Chì 207, Chì 207 biến thành Chì 208). Muốn dùng phương pháp định tuổi nhờ U-ran, chúng ta phải biết lượng U-ran ban đầu là bao nhiêu? Đó là loại U-ran nào, U-ran 235 hay U-ran 238? Trong mẫu vật có tồn tại Thô rum và Chì phóng xạ 206 không? Chì mà chúng ta có được trong mẫu vật hôm nay là sản phẩm phân hóa của U-ran hay Thô-rum hay Chì 206 hay Chì có sẵn ngay tù ban đầu? Đây là những điều không ai có thể chắc chắn được, đặt biệt khi muốn bàn về hóa thạch từ thời đại hàng triệu, hàng trăm triệu năm về trước.
4. Trong suốt thời gian qua, tốc độ phân hóa phải đều đặn và chất phóng xạ không mất mát đi hoặc thêm vô qua các quá trình khác. Nói cách khác, điều kiện ngoại cảnh phải chính xác như trong phòng thí nghiệm. Đó là điều không thể có được trong thiên nhiên. Khi đặt một hóa thạch lên máy đo, ai có thể biết chắc mẫu vật này đã bị phơi nắng dầm sương bao lâu? Hay bị động đất, núi lửa hoặc nước lụt vùi dập đến mức độ nào? Hóa thạch đó có bị ô nhiễm bởi các hóa chất khác không, hay có nằm giữa các khoáng vật mang tính phóng xạ không, lượng tia phóng xạ từ vũ trụ thâm nhập vào khí quyển ngày xưa có như ngày nay không? v.v... Tóm lại, tất cả điều kiện ngoại cảnh đều ảnh hưởng đến tốc độ phân hóa của chất phóng xạ trong hóa thạch.
Người ta có thể biết rõ những gì xảy ra trong vòng 5000 năm trở lại đây, qua Kinh Thánh cũng như lịch sử nhân loại và truyền thuyết dân gian. Còn những gì xảy ra trước đó chẳng qua là giả thiết. Trong khi các nhà khoa học không tin có nạn Hồng thủy, tức là một trận lụt bao phủ cả Trái Đất xảy ra 4300 trước đây, họ lại tin có một cuộc va chạm giữa Trái Đất và một thiên thạch khổng lồ khiến cho các con khủng long bị chết cách đây hàng trăm triệu năm. Trong từng trường hợp, điều kiện ngoại cảnh thay đổi một cách bất thường và mãnh liệt chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến tốc độ phân hóa phóng xạ. Bởi vậy phương pháp đo phóng xạ không còn chính xác nữa.
Lấy ví dụ: một ấm nước chứa một lít nước tinh khiết đặt trên một bếp lửa trong phòng sẽ sôi và bốc hơi hết trong vòng một giờ. Nếu nước không tinh khiết, thời gian đun nước sẽ thay đổi. Nếu đem bếp ấy, ấm ấy để ngoài sân, có gió thổi, nước sôi trong vòng hai giờ. Nếu đem bếp ấy, ấm ấy lên núi cao sẽ sôi nhanh hơn vì áp suất thấp, nhưng nhiệt độ sôi lại thấp hơn... Nhìn vô ấm nước mình không thể nói rằng: "À, một giờ đã trôi qua vì nước bắt đầu sôi." được.
Các phương pháp U-ran / Chì hay Ka-li / Agon có nhược điểm là thời gian phân nửa quá lâu nên dù đo đạc cẩn thận đế đâu cũng đem lại những kết quả khác biệt. Trong khi đo đạc một hóa thạch tìm được ở Thụy điển bằng phương pháp Uran / Chì, người ta có được những kết quả như sau: 380, 400, và 800 triệu năm. Ở Ha Oai, năm 1968, khi đo đạc các khoáng vật có nguồn gốc từ núi lủa, được tạo thành trong vòng 200 -1000 năm trở lại bằng phương pháp Kali / Agon, người ta thấy rằng nếu mẫu vật lấy lên từ độ sâu 500 mét, nó hình thành cách đây 0.22 triệu năm. Nếu mẫu vật được lấy lên từ độ sâu 2500 mét, nó hình thành cách đây 49.5 triệu năm. Nếu mẫu vật được lấy lên từ độ sâu 5000 mét, nó được hình thành cách đây 19.5 triệu năm. Thật ngạc nhiên, mẫu vật này ở sâu hơn lại trẻ hơn so với mẫu vật được lấy ở độ sâu 2500 mét. Ngay trong cùng một độ sâu, các mẫu vật cũng chỉ ra các lứa tuổi khác nhau từ 1 đến 42 triệu năm.
Trong thực tế người ta không có phương pháp nào định tuổi hóa thạch một cách chính xác. Từ điển Bách khoa Quốc tế (World Book Encyclopedia) năm1988, trang 422, tập 7 nói về hóa thạch (fossils) như sau: "Người ta xác định tuổi của hóa thạch nhờ xác định tuổi của lớp đất mà hóa thạch nằm trong đó". Bây giờ xin giở sang trang102 tập 15, nói về môn khoa học nghiên cứu hóa thạch (Paleontology): "Người ta xác định tuổi của một lớp đất nhờ xác định tuổi của các hóa thạch nằm trong đó". So sánh hai câu này bà thấy có lý không? Muốn biết tuổi ông A xin hỏi tuổi vợ ông là bà B. Bây giờ đi hỏi tuổi bà B thì bà ấy trả lời: "Có gì khó đâu, nếu anh biết tuổi chồng tôi thì biết ngay tuổi của tôi mà".
Một nông dân muốn cân con heo. Ông nói con heo bằng hòn đá và hòn đá nặng bằng con heo. Đúng! Nhưng nan đề là ông chẳng có phương tiện nào để xác định trọng lượng chính xác của cục đá hay con heo..
Vì không thể định tuổi được cả hóa thạch và lớp đất chứa nó, người ta đem hóa thạch so sánh với "cột biểu đồ địa chất" của thuyết tiến hóa, hoàn toàn được dựng lên theo giả thiết.
Muốn biết tuổi của một hóa thạch, người ta đối chiếu nó với tầng đất nằm bên trái để xem tuổi tầng đất tương ứng. Ngược lại nếu muốn biết tuổi tầng đất, người ta đối chiếu sang bên phải để xem tuổi của hóa thạch. Nan đề là tuổi của tầng đất, hóa thạch được quy ước theo giả thiết chứ không phải đo lường .
Nhìn vào một bộ xương cá hơi khác thường, người ta nói nó sống cách đây 450 - 500 triệu năm theo biểu đồ. Con cá ấy có thể sống 2 - 3 nghìn năm trước đây cũng nên.
Khi người ta nói tuổi trái đất là 5,5 tỷ năm hay các con khủng long sống cách đây 150 triệu năm, chúng ta nên hiểu rằng đó là giả thiết phù hợp với thuyết tiến hóa chứ không phải là sự đo lường khoa học chính xác.
Giả thuyết về tuổi trái đất khoảng 5 tỷ năm có nhiều điểm đáng nghi ngờ. Sau đây là một số thắc mắc chưa được giải đáp:
1. Nếu tuổi trái đất khoảng 5 tỷ năm sao người ta không tìm thấy cây cổ thụ nào sống quá 4.000 -5.000 năm. Biết rằng không có gì sống vĩnh cửu, nhưng thời khủng long, khi cây dương sỉ còn cao đến 30 - 50 mét thì chắc các loại cây cổ thụ, thông, sồi cũng có thể tồn tại 15 -20 nghìn năm chứ.
2. Mặt trăng có cùng tuổi với trái đất. Bởi khí quyển mỏng hơn và từ trường yếu hơn nên Mặt Trăng không thể đẩy ra những hạt bụi vũ trụ. Khi các nhà du hành vũ trụ hạ cánh xuống Mặt Trăng, người ta lo sợ con tàu sẽ bị chìm trong biển bụi vũ trụ tích lũy từ hàng tỷ năm. Thật ngạc nhiên thay họ khám phá ra một điều là lớp bụi vũ trụ ấy chỉ dày khoảng 1.5 cm. Điều đó chứng tỏ tuổi trẻ của Mặt Trăng. Mỗi một năm, người ta ước lượng khoảng 14 -50 tỷ tấn bụi vũ trụ rơi xuống Trái Đất. Nếu tuổi Trái Đất là 4.5 tỷ năm thì lớp bụi kền có nguồn gốc vũ trụ sẽ đóng dày 30 mét trên mặt đất và trên mỗi một mét vuông của đáy biển người ta sẽ tìm thấy 3.3 tấn kền lắng đọng. Thực tế không như vậy, chứng tỏ rằng tuổi Trái Đất này không phải hàng tỷ năm nhưng trẻ hơn nhiều, khoảng vài ngàn năm mà thôi.
Thiên thạch (meteorite) là loại đá từ vũ trụ bị bắn vào Trái Đất. Nếu tuổi Trái Đất cỡ hàng tỷ năm sao chúng ta không tìm thấy thiên thạch trong các tầng lớp đất đá khác ngoài tầng lớp trên cùng?
3. Các nhà tiến hóa cho rằng tuổi của đại dương là một tỷ năm. Nếu mỗi một năm các con sông đem ra ngoài biển 27 tỷ tấn phù sa thì lớp phù sa dưới đáy đại dương sẽ dày 29.7 km và lục địa sẽ mỏng đi 64 km trong vòng một tỷ năm. Thực ra lớp phù sa dưới đáy đại dương ngày nay chỉ dày 804 m mà thôi và nơi cao nhất của lục địa là đỉnh Ê-vê-rét chỉ cao đến 8.8 km. Câu trả lời thích đáng là trái đất trẻ hơn nhiều so với điều người ta mong đợi.
Vì sao nước biển mặn? Giả sử trong thời buổi ban đầu nước biển không khác gì nước hồ và nó trở nên mặn bởi hòa tan các khoáng chất được đưa từ đất liền ra từ sông ngòi, các nhà khoa học xác định rằng tuổi của biển không quá 200.000 năm, chính xác hơn: Khoảng 50.000 năm, chiểu theo mức độ phù sa trôi ra biển ngày hôm nay. Nhưng nếu trước đây xảy ra Nạn Hồng thủy như được mô tả trong Kinh Thánh, thì lượng đất đá và khoáng vật được xáo trộn trong một thời gian 300 ngày đêm của một trận lụt toàn cầu khổng lồ sẽ lớn hơn lượng phù xa được sông ngòi bào mòn hàng năm trong điều kiện bình thưòng. Như vậy tuổi của biển còn có thể được rút ngắn hơn nhiều, có thể 5000 - 10.000 năm.
4. Dầu và khí chứa đựng trong các “túi rỗng” nằm giữa các tầng đất, đá và cát, nhiều nơi sâu vài km. Nếu tuổi thọ của các tầng đất đá nhiều hơn 10 ngàn năm sức nén cực mạnh như vậy sẽ khiến lượng dầu khí ấy bị ép đẩy, thẩm thấu vào môi trường xung quanh từ lâu rồi.
5. Trái Đất là một cục nam châm khổng lồ. Các nhà khoa học giả thiết là từ trường cuả trái đất được tạo ra bởi sự chuyển động của các dòng điện trong lòng Trái Đất. Họ cũng cho biết là sức mạnh của từ trường Trái Đất đang giảm dần. Vậy nếu sức mạnh của từ trường lúc ban đầu lớn đến mức độ nào? Nếu từ trường Trái Đất giảm dần với tốc độ 14% trong 130 năm theo quan sát khoa học, có nghĩa là cứ 1.400 năm, từ trường của Trái Đất giảm đi một nửa. Vậy nếu tuổi Trái Đất là 5,5 tỷ năm, từ trường của nó mạnh đến mức độ nào, từ trường ở thời điểm cách đây 30.000 năm đủ lớn để khiến mặt đất bị nung nóng tới nhiệt độ 5000 độ C, gần bằng nhiệt độ trên bề mặt Mặt Trời. Làm sao sinh vật có thể tồn tại được trong môi trường ấy?
Từ trường của Trái Đất có tác dụng bảo vệ sinh vật khỏi các tia phóng xạ vũ trụ. Từ trường càng lớn, tia phóng xạ thâm nhập vào khí quyển càng ít. Tia phóng xạ càng ít thì lượng các bon 14 hấp thụ càng nhỏ hơn, nhỏ đến mức mà khi đo đạc các hóa thạch của sinh vật sống cách đây vài ngàn năm, các nhà khoa học lầm tưởng rằng nó đã sống cách đây vài trăm triệu năm. Điều này khiến chúng ta nghi ngờ về sự hữu hiệu của các phương pháp định tuổi hóa thạch bằng phóng xạ.
Có nhiều nhà khoa học cho rằng từ trường Trái đất thay đổi theo chu kỳ lúc lên lúc xuốngø. Đây là giả thiết chứ không phải kết quả trắc nghiệm. Những ai dựa vào giả thiết này sẽ sa vào một cạm bẫy: Nếu từ trường Trái Đất thay đổi không đều dặn thì lượng Các bon 14 trong sinh vật cũng thay đổi không đều đặn, vậy làm sao họ có thể xác định tuổi của hóa thạch bằng phương pháp phóng xạ được?
6. Mặt Trời quả là một "tên khổng lồ" so với Trái Đất chúng ta, tuy nhiên đây là "một tên khổng lồ nhỏ dần theo thời gian". Cứ một thế kỷ trôi qua, nó nhỏ lại khoảng 0.1% kích thước trước đó. Mỗi năm mặt trời thu nhỏ khoảng 13 km, tức rời xa Trái đất 6,6 km. Vậy cách đây 100.000 năm Mặt Trời ở gần hơn Trái Đấùt 660.000 km. Xích đạo chỉ ở gần Mặt Trời 6500 km so với Bắc Cực mà bạn cảm thấy nhiệt độ thay đổi đến mức nào rồi. Khoảng cách giửa Trái Đất và Mặt Trới là 150 triệu km, nếu tuổi Mặt Trời là 20 triệu năm, nó lớn đến mức có thể đụng tới.
7. Giả sử con người có mặt trên Trái Đất khoảng một triệu năm. Nếu chỉ tính mức độ tăng trưởng dân số hết sức khiêm nhường, (giả thiết 0.01% trong suốt lịch sử loài người, so với 1% - 2 % trong thực tế ngày hôm nay), sau một triệu năm dân số trên Trái Đất sẽ là 10 43 người, có nghĩa là con người đang sống sẽ đứng chật một khoảng không gian bằng 3.500 hệ Mặt Trời. Ấy là chưa kể đến 102091 bộ xương người đang nằm dưới chân chúng ta. Thực ra dân số trên trái đất năm 1650 mới có 545 triệu người, năm 1950 có 2,5 tỷ người và năm 2000 khoảng 6 tỷ người. Để tăng tưởng từ 8 người lên đến 6 tỷ người, chúng ta chỉ cần khoảng 4300 năm chứ không phải một triệu năm. (giả thiết mỗi thế hệ kéo dài khoảng 40 năm, một gia đình chỉ có 2,5 người con và mức độ tăng trưởng dân số hết sức khiêm nhường là .5%). Điều này không những bác bỏ giả thiết con người xuất hiện một triệu năm trước đây, nhưng chứng minh cho nạn Hồng Thủy xảy ra cách đây 4300 trong đời ông Nô-ê mà hậu quả chỉ có 8 người sống sót để làm tổ tiên cho cả nhân loại ngày nay. Ông Nô-ê sống khoảng 1600 năm sau khi Đức Chúa Trời sáng tạo con người đầu tiên theo Kinh Thánh, xin xem phụ lục 1 ở cuối sách.
(Còn tiếp)